một số cách chọn dây dẫn âm thanh mà có khả năng chưa bao giờ bạn biết
CẤU HÌNH CỦA DÂY
Cách sắp xếp những chất truyền điện , chất cách điện và đầu cắm trong dây sẽ tạo nên cấu hình dây dẫn. đối với một số công ty , cấu hình dây dẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc thiết kế dây, hơn cả chất liệu của chất dẫn điện & kiểu dáng dây.
một Giả dụ chứng tỏ cấu hình có các tác động đến sự trình diễn của dây đó là thay vì chạy hai dây dẫn điện song song với nhau thì ta xoắn chúng lại với nhau một cách đơn điệu . Việc xoắn lại sẽ giúp giảm đáng kể điện dung và trở kháng trong dây. Cấu hình mà trong đó hai dây dẫn mắc song song với giống như sơ đồ của 1 tụ điện có hai dây chạy song song với nhau.
đa số những nhà thiết kế dây đều đồng ý rằng sự tương tác giữa những sợi dẫn hay còn gọi là hiệu ứng mặt ngoài (skin effect) là nguyên nhân chính làm giảm đi chất lượng âm thanh của dây. một dây dẫn có hiệu ứng mặt ngoài cao thì nguồn tín hiệu tần số cao toa pc-2852 sẽ đi lại nhiều ở phía bề mặt của dây & ít đi dần ở phần giữa của dây. Hiện tượng này xảy ra trong cả chất dẫn điện sử dụng dây cứng hoặc nhiều dây nhỏ tạo thành . Hiệu ứng mặt ngoài làm thay đổi đặc điểm của dây ở những độ sâu không giống nhau và việc này làm ảnh hưởng đến một số tần số khác nhau của nguồn tín hiệu âm thanh. Âm thanh tạo ra bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng mặt ngoài sẽ mất đi độ chi tiết, độ thoáng ở quãng tám cao nhất & độ sâu của màn âm thanh.
Kỹ thuật xử lý “hiệu ứng mặt ngoài” là dùng kết cấu litz, loại kết cấu mà trong đó mỗi tao dây nhỏ trong nhóm dây được phủ lên một lớp chất cách điện để ngăn chúng khỏi sự tiếp xúc điện với những tao dây khác xung quanh. Mỗi tao dây nhỏ trong kết cấu litz này gần như tương bạc hoặc đồng nhau về mặt điện tính. các tao dây này sẽ làm cho những vấn đề do hiệu ứng mặt ngoài gây cho âm thanh ra không thể bị nghe thấy bởi tai. bởi vì một số tao dây rất mảnh nên chúng sẽ được bó lại với nhau theo một trật tự khá tự do để tạo nên 1 lõi dây đủ lớn để nhận được điện trở thấp.
một số dây có kết cấu chất truyền điện bao gồm nhiều tao dây nhỏ nếu không sử dụng kết cấu litz có thể gặp phải hiện tượng tín hệu “nhảy” từ sợi này sang sợi khác khi dây được xoắn lại. Khi dây xoắn lại một tao dây sẽ nằm phía ngoài 1 điểm trên dây và sau đó sẽ nằm phía trong điểm đó nhưng ở một vị trí thấp hơn. Do “hiệu ứng mặt ngoài”, tín hiệu có xu hướng chạy ở một số điểm phía ngoài của tao dây và khiến cho chúng nhảy qua một số tao dây khác. Rất giống với cấu tạo dạng thớ trong dây đồng hoặc bạc bề mặt của mỗi tao dây cũng họat động như một mạch nhỏ với điện dung & hiêu ứng của 1 diode,
những tao dây riêng biệt trong 1 nhóm dây cũng có khả năng sinh ra từ trường & các từ trường này tương tác với nhau. bất cứ khi nào dòng điện đưa vào đường dây thì từ trường sẽ được hình thành xung quanh dây. Nếu là dòng điện xoay chiều thì từ trường của những tao dây tạo ra sẽ dao động tương tự nhau. Từ trường này có thể gây ảnh hưởng đến nguồn tín hiệu trên các nhóm dây liền kề và chính vì vậy làm giảm chất lượng cao âm thanh của dây. một số cấu hình dây có thể làm đi xuống sự tương tác từ trường này bằng cách sắp xếp các tao dây bao xung quanh 1 chất cách điện được đặt ở giữa giúp cách chúng ra với nhau.
THÔNG SỐ KỸ THUẬT CỦA DÂY DẪN
Có rất nhiều các quảng cáo thổi phồng & chỉ là những thông tin sai lệch về dây dẫn. những công ty đôi khi cảm thấy cần phải phát minh ra 1 nguyên nhân kỹ thuật nào đó để giải thích tại sao dây của họ nghe hay hơn các đối thủ cạnh tranh. trên thực tế , thiết kế dây là 1 một nghệ thuật “ khá bí ẩn” với những kiểu dáng đẹp mắt bên ngoài nhưng khi nghe kỹ lại có rất nhiều một số vấn đề phiền phức và lỗi kỹ thuật. mặc dù là một số chất truyền điện , chất cách điện và cấu hình dây cụ thể có các đặc điểm âm thanh riêng biệt nhưng một số thiết kế dây được coi là đạt không thể chỉ được diễn đạt bởi các thuật ngữ kỹ thuật. điều này lý giải do đâu không nên chọn lựa dây mà chỉ phụ thuộc vào các thông số và mô tả kỹ thuật của dây.
Mặc dù thế trong 1 số trường hợp cũng bắt buộc phải chú ý đến 3 thông số kỹ thuật có liên quan đến dây đó là: điện dung, độ tự cảm và trở kháng.
Điện trở của dây, thường được gọi là điện trở dòng điện 1 chiều, là sự đo lường mức độ cản trở dòng điện đi qua dây. Đơn vị đo của điện trở là ohm. Ohm càng thấp thì sự cản trở dòng điện của dây càng thấp. Điện trở không phải là yếu tố tác động đến sự trình diễn của dây tín hiệu (trừ một số loại dây mới không có tính kim lọai), nhưng lại ảnh hưởng đến 1 số dây âm thanh nhất là một số dây mảnh do những dây âm thanh bắt buộc phải truyền đi dòng điện có cường độ cao.
Âm thanh của dây có thể bị ảnh hưởng bởi độ tự cảm của dây. Độ tự cảm của dây càng bé thì càng tốt , đặc biệt là ở trong dây loa . Mặc dù thế 1 vài ampli toa a 2030 giá rẻ công suất cần phải có 1 mức độ tự cảm quan trọng để có khả năng hoạt động khá ổn định, nhiều ampli khác thì có phần điện cảm đầu ra được gắn vào những trạm cắm của loa (bên trong những chassis). Khi tính độ tự cảm quan trọng cho ampli toa a2120 sức mạnh thì cần phải cộng cả trở kháng của dây vào độ tự cảm của loa.
Điện dung là 1 yếu tố có tác động rất lớn đến dây tín hiệu , nhất là là khi bắt buộc phải chạy dây nguồn tín hiệu dài hoặc là khi bộ phận nguồn có trở kháng đầu ra cao. Điện dung của dây tín hiệu được đo bằng số picofarads/foot (1foot = 0,3048m). Điều cần lưu tâm không phải là điển trở bên trong của dây mà là tổng tất cả điện dung gắn vào thiết bị nguồn. Ví dụ , một dây nguồn tín hiệu dài 5 feet có điện dung 500pF sẽ có tổng điện dung bằng với dây có chiều dài 50 feet với điện dung là 50pF. Điên dung trong dây nguồn tín hiệu cao sẽ khiến cho âm treble bị mất đi và dải động bị giảm bớt .
Đăng nhận xét